Sự Thật Ít Người Biết Về Thịt, Trứng, Sữa Và Hải Sản

Thịt, trứng, sữa và hải sản là nguồn cung cấp cho cơ thể các chất dinh dưỡng như: pro- tein, chất béo, khoáng chất và vitamin với chất lượng tuyệt vời. Nhưng cần dùng với liều lượng hợp lí mỗi ngày để hấp thụ tốt nhất dinh dưỡng trong thịt, trứng, sữa, hải sản.

Dinh dưỡng trong thịt, trứng, sữa, hải sản

Thịt gia súc

Có chứa 10 đến 20% protein, có chứa hàm lượng sắt phong phú và các loại acid amin cần thiết cho cơ thể. Khi chọn thịt gia súc cần chú ý các điểm sau:

  • Hàm lượng chất béo của thịt gia súc ở từng bộ phận khác nhau là khác nhau. Ví dụ như là thịt lợn thì thịt mỡ là 90%, thịt ba chỉ là 35%, tủy sống 7,9%.
  • Thịt gia súc khác nhau thì mức độ bão hòa của chất béo cũng khác nhau, trong đó thịt bò, thịt cừu có các acid béo bão hòa cao nhất.
  • Hấp thụ quá nhiều các acid béo bão hòa dễ bị béo phì, mắc các căn bệnh về tim mạch. Do đó, khi ăn thịt gia súc bạn nên chọn thịt nạc, ít ăn thịt mỡ.

Thịt gia cầm và các loại trứng

Thịt gia cầm mà chúng ta hay ăn hàng ngày là thịt gà, thịt vịt, thịt ngan. Thịt gia cầm có thể cung cấp các loại acid amin, chất béo, khoáng chất và vitamin cần thiết cho cơ thể. So với thịt gia súc thì mùi vị của thịt gia cầm thơm hơn, thịt mềm hơn và hàm lượng protein thì cũng bằng với thịt gia súc.

dinh dưỡng trong thịt cá trứng sữa
Dinh dưỡng trong thịt gia cầm

Thịt gia cầm có điểm khác với thịt gia súc chính là hàm lượng acid béo bão hòa thấp, do đó mà ăn thịt gia cầm có ích đối với sức khỏe hơn là thịt gia súc.
Giá trị dinh dưỡng của protein có trong các loại trứng là cao nhất, ngoài ra nó còn có hàm lượng vitamin và khoáng chất vô cùng phong phú. Đây chính là một trong những nguồn quan trọng để cung cấp chất dinh dưỡng cho cơ thể con người.

Các loại sữa

Thực phẩm làm từ sữa vô cùng phong phú. Sữa bò gần giống với sữa người, chỉ có điểm khác là hàm lượng protein có trong sữa bò cao hơn sữa người, hàm lượng đường sữa có trong sữa người cao hơn sữa bò mà thôi. Protein có trong sữa bò có toàn bộ các chất acid amin cần thiết với tỷ lệ khá cao. Chất béo có trong sữa bò dễ tiêu hóa và hấp thụ, đồng thời nó có các acid béo cần thiết và lecithin… Carbon-hydrate có trong sữa bò được tồn tại bởi dạng đường sữa (lactose), có thể điều tiết được acid dạ dày, thúc đẩy dạ dày và ruột co bóp tốt.

Muối vô cơ có trong sữa bò có hàm lượng canxi, phospho, kali phong phú, khả năng hấp thụ rất cao. Hàm lượng của nguyên tố mang tính kiềm có trong sữa cao hơn là nguyên tố mang tính acid, rất có ích cho việc duy trì độ cân bằng acid kiềm trong cơ thể, nhưng hàm lượng sắt khá thấp, vì vậy mà trẻ được nuôi bộ bằng sữa ngoài cần phải bổ sung các sản phẩm có chứa sữa bắt đầu từ tháng thứ 4. Trong sữa bò còn chứa các loại vitamin như vitamin A, D, C, B1, B2, niacin…

Các loại thủy sản

Chúng ta thường ăn các loại thủy sản là cá, tôm, hải sâm… Thành phần dinh dưỡng của các loại thủy sản này cũng tương ứng với thành phần dinh dưỡng có trong các loại thịt. Đây là nguồn quan trọng cung cấp protein cho cơ thể con người. Hàm lượng chất béo có trong các loại cá chiếm khoảng 3%, thường thì hàm lượng của cá biển cao hơn là cá nước lợ. Cá biển chứa nhiều iot hơn. Hàm lượng sắt có trong các loại thủy sản là khá cao, nếu như biết nấu nướng hợp lý thì cơ thể sẽ dễ dàng hấp thụ được.

Ăn thịt thế nào là tốt nhất?

Mọi người hay nói là thịt thì không nên ăn nhiều vì ăn nhiều sẽ không tốt cho sức khỏe. Ăn thịt nhiều thực sự nguy hiểm như vậy chăng, có cách nào đối phó được không? Sau đây là một vài cách ăn thịt sao cho tốt nhất đối với sức khỏe để các bạn tham khảo.

Chú ý tới nguồn gốc của thực phẩm

Thịt là nguồn quan trọng để chúng ta có được protein và năng lượng cho cơ thể, bạn thích ăn thịt thì nên ăn, tuy nhiên khi ăn cần chú ý đến những kiến thức an toàn vệ sinh thực phẩm, cố gắng giảm bớt sự nguy hiểm đối với sức khỏe.

Ví dụ như là vi khuẩn gây bệnh của bệnh bò điên thường xuất hiện ở những tổ chức thần kinh như là não, tủy sống, màng võng mạc. Khi ăn những bộ phận này của bò thì cần phải hết sức cẩn thận. Virut gây bệnh cúm gia cầm cũng giống như là virut gây bệnh cảm cúm, chủ yếu là lây lan qua đường hô hấp, cho dù là thịt gà hay trứng gà chỉ thời gian nấu cần phải lâu, phải nấu cho chín kỹ thì mới tiêu diệt được virut gây bệnh.

Ăn cá biển dễ bị trúng độc thủy ngân nên khi ăn bong bóng cá, da cá và mỡ cá cần phải hết sức cẩn thận. Vì những bộ phận này tích trữ khá nhiều chất bẩn, dễ chứa mầm bệnh.

Thịt gia súc không bằng thịt gia cầm, thịt gia cầm không bằng cá

Khi ăn thịt bạn cần tuân thủ theo một nguyên tắc hết sức quan trọng là “thịt gia súc không bằng thịt gia cầm, thịt gia cầm không bằng cá”.

Khi ăn thịt lợn tốt nhất nên ăn cùng với các loại đậu.
Vì trong các loại đậu có chứa hàm lượng lecithin cao, có thể kết tủa được huyết tương, làm cho cholesterol và các hạt chất béo nhỏ đi, lẫn vào trong huyết tương, không lắng đọng ở thành mạch máu, sẽ ngăn ngừa được sự hình thành của các đốm xơ.

Thịt gia cầm có chứa hàm lượng protein cao, chất béo ít, đặc biệt là hàm lượng lysine trong thịt gà cao hơn thịt lợn 13%. Cách nấu thịt gà sao có dinh dưỡng nhất là nấu canh, vừa ngon, vừa bổ. Canh thịt gà sẽ làm cho tinh thần của bạn sẽ thấy phấn chấn hơn, giải tỏa mệt mỏi, chữa được chứng trầm cảm, tuần hoàn máu ở mũi, họng tốt, tăng cường tiết dịch cho khí quản, rất tốt đối với những người hay bị mắc bệnh về đường hô hấp, cảm cúm.

Cá cũng là loại thực phẩm được nhiều người thích ăn, vì thịt của cá mềm, dễ tiêu hóa, hấp thụ hơn là thịt gia súc, gia cầm, đặc biệt thích hợp với trẻ em và người già. Ngoài ra, hàm lượng chất béo trong cá thấp, acid béo không bão hòa trong cá chiếm 80% hàm lượng các chất béo, rất có ích đối với những người bị các bệnh tim mạch.

Hàng ngày không nên ăn quá 200gr thịt

Theo như tiêu chuẩn ăn uống hợp lý thì hàng ngày mỗi người chỉ cần khoảng 44 đến 45gr protein động vật. Hàm lượng protein này ngoài hấp thụ từ thịt ra thì còn có thể được bổ sung từ nguồn sữa bò, trứng… Vì vậy, hàng ngày tốt nhất là chỉ ăn một bữa thịt vào buổi trưa và lượng thịt khoảng 200gr là đủ. Bổ sung trứng và sữa vào bữa sáng và tối thì hoàn toàn có thể đáp ứng được nhu cầu protein động vật đối với cơ thể.

Ăn thịt thỏ vừa tốt cho sức khỏe, vừa có tác dụng làm đẹp

Thịt thỏ có chứa protein, lysine, acid nicotinic cao, dễ tiêu hóa, ngoài ra thịt thỏ còn có ưu điểm là nhiệt lượng thấp, chứa ít chất béo và cholesterol. Thịt thỏ không chỉ có giá trị dinh dưỡng rất cao mà còn có tác dụng bồi bổ sức khỏe và làm đẹp.

 Hàm lượng protein trong thịt thỏ rất cao

Trong đó có 8 loại acid amin cần thiết cho cơ thể mà cơ thể con người không thể tạo ra được, nhất là hàm lượng lysine vô cùng cao. Loại protein thuần khiết này là chất dinh dưỡng chủ yếu bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức của cơ thể con người phát triển bình thường. Các chuyên gia dinh dưỡng xếp thịt thỏ vào hàng các loại thịt tác dụng “bảo vệ sức khỏe”.

Hàm lượng chất béo, cholesterol trong thịt thỏ rất thấp

Cơ thể con người không thể tạo ra được acid béo không bão hòa, trong khi đó thịt thỏ có hàm lượng lycithin khá cao, dễ được cơ thể con người hấp thụ, là chất dinh dưỡng quan trọng để bổ sung tế bào tổ chức cho não con người, rất bổ não, là loại thịt tốt cho trẻ nhỏ và chữa được chứng hay quên của người già. Các chuyên gia dinh dưỡng xếp thịt thỏ vào hàng các loại thịt có tác dụng “bổ não”.

Thịt thỏ nhiều chất dinh dưỡng vô cùng phong phú,

Hàm lượng aicd nicotinic trong thịt thỏ rất cao. Nó không những thúc đẩy sự chuyển hóa và hình thành của các chất dinh dưỡng khác mà còn chữa được bệnh viêm da, chống cho da bị thổ áp, khiến làn da láng mịn. Các chuyên gia dinh dưỡng xếp thịt thỏ vào hàng các loại thịt có tác dụng “làm đẹp”.

Hàm lượng khoáng chất trong thịt thỏ cũng rất phong phú, nhất là hàm lượng canxi rất cao. Rất tốt đối với sự phát triển bình thường của thai nhi và trẻ sơ sinh. Thiếu canxi dễ làm cho bạn mắc chứng nhuyễn xương, nặng hơn thì bị còi xương. Do đó, phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ và người già nếu thường xuyên ăn thịt thỏ thì sẽ duy trì được sự phát triển lành mạnh của xương.

Thịt thỏ có thể bảo đảm được các chất dinh dưỡng cao mà cơ thể con người cần có được. Hơn nữa lại không gây ra hiện tượng trầm lắng trong mạch máu vì hấp thụ nhiều acid bão hòa, ngoài ra còn chống được xơ cứng động mạch. Do đó, thịt thỏ là loại thực phẩm lý tưởng nhất cho những người bị huyết áp cao, bệnh tim mạch, béo phì và đái đường.

Thớ thịt thỏ mềm nên dễ tiêu hóa và hấp thụ, rất tốt cho người già, trẻ nhỏ và người chán ăn, chức năng tiêu hóa kém.

Thịt thỏ ít nhiệt lượng

Hàm lượng dinh dưỡng cao có trong thịt thỏ chính là nhờ có lượng acid béo không bão hòa phong phú. Thịt thỏ ít chất béo, ít cholesterol, nhiệt lượng thấp hơn các loại thịt khác. Do đó, ăn thịt thỏ thì bạn vừa hạn chế được sự hấp thụ của nhiệt lượng, vừa đảm bảo các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể và có thể trì hoãn được sự suy thoái của cơ thể.

Hiện nay cuộc sống hàng ngày của mỗi người có quá nhiều áp lực nhất là những người lao động trí óc, vì vậy cần phải có một loại thực phẩm vừa bổ não vừa cung cấp chất dinh dưỡng cho cơ thể. Thịt thỏ chính là sự lựa chọn tốt nhất cho chúng ta.

Nhìn nhận một cách khoa học đối với các chất dinh dưỡng có trong trứng

Nhiều người cho rằng giá trị dinh dưỡng của trứng gà vỏ màu hồng nhạt cao hơn là trứng gà vỏ màu trắng, vì vậy mà họ toàn mua trứng gà mầu hồng nhạt dù có đắt hơn. Thực ra, vỏ của quả trứng gà có liên quan tới giới, giống gà, chứ không có ảnh hưởng gì tới thành phần dinh dưỡng trong trứng.

Trứng của gà nuôi công nghiệp màu không đậm bằng trứng gà ta, nên nhiều người cho rằng giá trị dinh dưỡng của trứng màu sậm hơn sẽ cao hơn. Nhưng màu đậm ấy chẳng qua là gà ta thường ăn các loại rau có chứa xanthophyll, mà xanthophyll đâu phải là chất dinh dưỡng. Hiện nay trong thức ăn nuôi gà công nghiệp cũng đã được cho thêm một lượng xanthophyll nhất định để cho vỏ trứng gà có màu sậm. Tóm lại là giá trị dinh dưỡng của hai loại trứng này về cơ bản không có gì khác nhau.

Mọi người cũng hay cho rằng ăn trứng gà sống sẽ nhiều chất dinh dưỡng, nên họ thường ăn trứng trần hoặc ốp lết trứng còn lòng đào. Tất nhiên là protein có trong trứng gà sống hay chín thì đều được tiêu hóa và hấp thụ, nhưng protein của trứng gà chín đã được biến đổi nên dễ hấp thụ hơn. Hơn nữa, trong trứng sống còn chứa một chất kháng sinh vật ngăn chặn sự hấp thụ của biotin, và chất ức chế sự sống trypsin, còn trong trứng chín thì những chất này đã bị loại bỏ. Vì vậy tốt nhất không nên ăn trứng sống.

Dinh dưỡng trong thịt, trứng, sữa, hải sản
Không nên ăn trứng sống

Cũng có người cho rằng lòng đỏ trứng gà có chứa nhiều cholesterol, ăn lòng đỏ trứng gà sẽ dễ bị viêm động mạch, nên họ toàn ăn lòng trắng mà không ăn lòng đỏ trứng gà. Bạn cần phải biết rằng, cholesterol động vật không phải là nhân tố duy nhất gây ra viêm động mạch, mà những nhân tố khác như là trạng thái phấn khích, di truyền, huyết áp cao, đái đường, hút thuốc, ít vận động, béo phì… mới là nhân tố nguy hiểm hơn là cholesterol động vật.

Lecithin có trong lòng đỏ trứng gà rất tốt với những người mắc bệnh tim mạch, vì vậy trứng gà tuy không nên ăn nhiều, nhưng cũng không được kiêng ăn. Thường thì mỗi ngày ăn một quả trứng gà sẽ không gây tác dụng gì xấu.

Tóm lại, trứng gà có thể cung cấp dinh dưỡng khá tốt cho cơ thể con người ở các độ tuổi khác nhau, rất hợp với trẻ nhỏ, người già và những người đau ốm, suy nhược cơ thể.

Đường sữa (lactose) khó hấp thụ thì phải làm thế nào?

Rất nhiều trẻ em nếu buổi trưa ăn một que kem hoặc là uống một cốc sữa lạnh thì buổi chiều bị đau bụng, trướng bụng, co giật… Đó là biểu hiện của hiện tượng đường sữa (lactose) khó hấp thụ. Những người khó thấp thụ lactose thì phải làm thế nào? Có được uống sữa nữa không? Sau đây là một vài ý kiến rất bổ ích đối với những người khó hấp thụ lactose:

Cần phải hạn chế lượng hấp thụ lactose trong một ngày.

Chỉ khi hấp thụ một lượng lactose ở mức độ nào đó thì mới có hiện tượng lactose khó hấp thụ, vì vậy, khi uống sữa bò không nên uống nhiều trong một lần, cũng không nên tu ừng ực, mà nên chia thành nhiều lần, mỗi lần uống một ít. Như vậy thì không những giúp cho cơ thể hấp thụ được nhiều canxi hơn mà còn ở mức độ nào đó tránh được chứng khó hấp thụ lactose.

Không nên uống sữa bò lúc bụng đang đói

Bạn có thể ăn thêm chút thức ăn thuộc loại cốc có thời gian tiêu hóa lâu như là bánh bích quy, bánh mì để kéo dài thời gian tiêu hóa của sữa bò. Như vậy cũng sẽ giảm bớt được triệu chứng lactose khó tiêu.

Chứng không dung nạp đường lastose

Sữa bột ít lactose trong quá trình gia công đã phân giải được phần lớn hàm lượng lactose có trong sữa, như vậy cũng sẽ giảm được hiện tượng lactose khó tiêu. Sữa chua trong quá trình len men, thì có từ 20 đến 30% lactose bị phân giải, sữa chua không chỉ có đầy đủ những thành phần dinh dưỡng của sữa tươi, mà còn tránh được những phản ứng không tốt do lactose khó tiêu.

Khi trẻ có triệu chứng lactose khó tiêu thì bạn có thể mua loại sữa dành riêng cho những người bị chứng lactose khó tiêu.

Uống sữa sẽ chống được căn bệnh ung thư

Nhắc đến căn bệnh ung thư buồng trứng thì người phụ nữ nào cũng nơm nớp lo sợ. Bạn có biết rằng, trong cuộc sống của chúng ta có một thứ rất ngon và rất tiện lợi, lại có thể giảm bớt được tỷ lệ ung thư buồng trứng ở phụ nữ hay không? Đó chính là sữa bò. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ thì nếu bạn hấp thụ được nhiều chất canxi, nhất là hấp thụ được canxi có trong sữa bò ít béo thì sẽ giảm được 54% tỷ lệ bị ung thư buồng trứng.

Tuy vậy, uống bao nhiêu sữa bò một ngày thì đạt tiêu chuẩn? Vì hàm lượng chất béo có trong sữa bò tương đối cao, nếu uống nhiều quá thì lợi bất cập hại. Theo lời khuyên của các chuyên gia dinh dưỡng thì hàng ngày bạn chỉ cần uống một cốc sữa bò 240ml là được. Nhưng cũng cần phải chú ý là những sản phẩm được làm từ sữa bò như là sữa chua lại không có tác dụng chống ung thư đâu nhé.

Bật mí những lợi ích bất ngờ từ thịt cá

Cá không chỉ là một món thực phẩm giầu chất dinh dưỡng mà còn dễ chế biến và hương vị rất ngon. Chính vì vậy mà món cá đã được rất nhiều bà nội trợ lựa chọn và được nhiều người ưa thích. Ăn cá vừa ngon lại vừa bảo vệ được sức khỏe.

Ăn cá sẽ phòng ngừa được căn bệnh trầm cảm

Ở nước Mỹ có đến 5% người Mỹ bị mắc bệnh trầm cảm khá nặng, còn tỷ lệ người Nhật bị mắc bệnh trầm cảm nghiêm trọng chỉ có 0,1%. Tức là chỉ bằng 1/50 so với người Mỹ. Con số này ít nhiều cũng cho thấy được sự liên quan tới thói quen ăn uống khác nhau giữa hai nước.

Trong cá có chứa một chất đặc biệt tên là acid béo, nó có liên quan tới “hóc môn vui vẻ” trong đại não của con người. “Hóc môn vui vẻ” này có tác dụng làm giảm sự căng thẳng của thần kinh, cân bằng tinh thần. Những người không ăn cá hoặc ít ăn cá thì mức độ “hóc môn vui vẻ” này sẽ thấp. Bạn biết rồi đó, người Mỹ ít ăn cá, còn người Nhật lại thường xuyên ăn cá, do đó mà tỷ lệ người Mỹ bị mắc bệnh trầm cảm cao hơn người Nhật rất nhiều.

Ăn cá sẽ phòng ngừa được chứng thở khò khè

Có câu: “cá thì sinh hỏa, còn thịt thì sinh viêm”, nên lâu nay mọi người hay nghĩ rằng ăn cá là một trong những nguyên nhân chính khiến bạn bị thở khò khè, cho nên mỗi khi ho hắng là tuyệt đối phải kiêng ăn cá. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì thường xuyên ăn cá không những chẳng có hại gì đối với những người hay bị ho hen, mà còn rất tốt trong việc phòng ngừa sự tái phát của bệnh ho hen.

Đó là vì trong cá có chứa acid béo không bão hòa, có thể ngăn chặn hoặc làm giảm bớt sự sản sinh các chất trung gian gây ra triệu chứng viêm nhiễm trong cơ thể. Ngoài ra, chất acid béo này không bão hòa này còn có tác dụng giảm nhẹ chứng bệnh viêm phế quản, nên nó giúp phòng ngừa việc hình thành, tái phát chứng bệnh hen và giảm bớt mức độ khò khè.

Ăn cá bổ não, giảm chứng mất trí nhớ

Thành phần acid béo DHA ở trong máu người già mạnh khỏe luôn cao hơn những người già bị mắc chứng đần độn. Hàm lượng acid béo DHA ở trong máu người già bị mắc chứng mất trí nhớ bình quân ít hơn người già mạnh khỏe từ 30 đến 40%. DHA là một chất dinh dưỡng cần thiết để tế bào đại não hoạt động và duy trì sự sống. Nó tác tác dụng hỗ trợ khả năng truyền gửi thông tin của hệ thần kinh, tăng cường tư duy và trí nhớ. Do đó, người già ăn cá nhiều thì sẽ giảm bớt được khả năng bị mắc chứng bệnh đần độn.

Ăn cá sẽ phòng ngừa đột quỵ

Người Nhật Bản ít bị đột quỵ hơn rất nhiều so với những người dân ở khu vực Âu Mỹ. Nguyên nhân chính là người Nhật Bản ăn cá nhiều, ăn cá nhiều có tác dụng bảo vệ tim, não, mạch rất tốt. Ăn các thực phẩm có thành phần chứa protein và amino acid sunphat càng cao thì tỷ lệ bị huyết áp cao càng thấp.

Dinh dưỡng trong thịt, cá trứng, sữa
Hàm lượng protein trong cá rất cao

Cá là một trong những thực phẩm có protein cao, mà protein này chính là amino acid protein và taurylic acid, đều là amino acid protein, nó có thể ảnh hưởng tới cơ chế điều tiết của huyết áp, khiến cho natri được thải qua đường nước tiểu nhiều hơn, từ đó kiềm chế được sự ảnh hưởng của muối sodium đối với huyết áp, giảm bớt khả năng bị cao huyết áp.

Một trong những biện pháp hiệu quả nhất để người già phòng ngừa các căn bệnh về tim mạch, não là hàng ngày nên ăn 3 đến 4 gr dầu cá.

Ăn cá sẽ chống được lão hóa

Ăn nhiều cá thì làn da của người già sẽ hồng hào, khỏe mạnh, mắt sáng, tinh thần tràn trề và sống rất thọ. Do đó, bạn muốn trì hoãn được sự lão hóa của cơ thể thì cách làm tốt nhất là hãy thường xuyên ăn cá.

Chức năng bảo vệ sức khỏe của các loại cá

Vì cá có chứa nhiều chất dinh dưỡng, có chức năng bảo vệ sức khỏe rất tốt nên mọi người đều thích ăn cá. Nhưng vì cá có rất nhiều loại, mỗi loại cá có một tác dụng bảo vệ sức khỏe khác nhau mà không phải ai ai cũng biết được. Sau đây là tác dụng bảo vệ sức khỏe của một số loại cá thông thường:

Cá Ấn rất có lợi cho tim mạch

Loại cá này bổ tỳ vị, lợi tiệu, tiêu phù thũng, thanh nhiệt, giải độc, lợi sữa. Phụ nữ mang thai nên ăn canh cá ấn nấu với chân giò, như vậy sẽ giúp ra sữa nhanh và có nhiều sữa. Dầu cá ấn có ích cho tim mạch, ngoài ra còn giảm được độ đông máu, thúc đẩy tuần hoàn máu.

Cá Chép lợi sữa cho mẹ sau sinh

Có tác dụng bổ tỳ, dạ dày, lợi tiểu, tiêu phù thũng, ngừng ho, an thai, lợi sữa, thanh nhiệt, giải độc. Cá chép nấu với bí xanh và hành thì sẽ điều trị được viêm thận. Cá chép để cả vảy nấu canh sẽ chữa được bệnh vàng da vàng mắt. Cá chép nấu với chân giò sẽ chữa được chứng thiếu sữa ở phụ nữ mới sinh.

Cá Mè có tác dụng ôn trung ích khí, bổ dạ dày, mềm da.

Cá mè có vị ngọt, tính ấm, giúp bổ não tuỷ, nhuận phế, khoẻ gân cốt.T rong Đông y, cá mè còn gọi là bạch cước liên, liên ngư. Bộ phận dùng làm thuốc là thịt, mỡ và mật cá.

Cá Trắm đen chống ung thư

Bổ khí, dạ dày, lợi tiểu. Trong cá trắm đen có nguyên tố vi lượng kẽm, selen có tác dụng chống ung thư.

Cá Quả chữa viêm thận, bổ máu

Bổ tỳ, lợi tiểu, thanh nhiệt, giải độc, bổ gan thận. Cá quả nấu với gừng tươi và táo tàu khô có tác dụng điều trị chứng lao hạch. Cá quả nấu với đường đỏ có tác dụng chữa viêm thận. Phụ nữ mới sinh ăn cá quả hấp có tác dụng bổ máu, thông sữa.

Cá Mực giải độc trong cơ thể

Bổ gan, thận, khí huyết, giải độc. Loại cá này rất tốt cho phụ nữ mới sinh, bổ máu, thông kinh, an thai, đẻ dễ, cầm máu, thúc sữa.

Cá Trắm cỏ liều thuốc Đông Y quý

Có chức năng bổ dạ dày, gan, đây là loại cá dưỡng sinh rất ôn hòa. Cá trắm có vị ngọt, tính bình, có công năng bổ thận khí, mạnh tỳ dưỡng vị, bình can sáng mắt, hóa thấp, khứ phong, lợi thủy. Cá trắm rất thích hợp với những người tỳ vị hư nhược, mất sức, phù nề, viêm gan, thận, tê thấp.

Cá Trèn bổ khí, bổ máu

Cá trèn có giá trị dinh dưỡng rất cao nhưng ít người biết đến. Ngoài bổ khí, bổ máu, cá trèn còn giúp bổ xương cốt.

Lươn và công dụng điều hòa đường huyết

Có tác dụng điều tiết nhất định đối với đường huyết. Những người khí huyết kém thì nên nấu lươn với hoàng kỳ ăn rất tốt. Bị trĩ nội dẫn đến chảy máu, sa tử cung thì nấu lươn ăn cũng rất hiệu quả.

Chạch giúp tráng dương, kéo dài tuổi thọ

Bổ khí, giã rượu, tiêu viêm, bảo vệ gan. Cá chạch nấu với củ tỏi sẽ chống được chứng ra mồ hôi trộm ở trẻ nhỏ.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here