Cảnh Báo: Những Hiểm Họa Khôn Lường Từ Bệnh Gút

Trong những năm trở lại đây, khi điều kiện kinh tế trong nước phát triển thì bệnh gút ngày càng nhiều hơn, hiện gút chiếm từ 10 – 15% trong số bệnh nhân mắc các bệnh về khớp điều trị tại bệnh viện. Bệnh gút thường xảy ra ở nam giới. Nó còn có tên gọi khác là bệnh thống phong. Đặc điểm của gút là bệnh của người quá dư thừa dinh dưỡng.

Các bệnh lí thường đi kèm với gút

  • Béo phì

Có sự liên quan giữa trọng lượng cơ thể và nồng độ acid uric máu. Tỉ lệ bệnh gút tăng rõ rệt ở những người có trọng lượng cơ thể tăng trên 10%. Béo phì làm tăng tổng hợp acid uric máu và làm giảm thải acid uric niệu, kết hợp của cả 2 nguyên nhân gây tăng acid uric máu. Theo các thống kê gần đây, 50% bệnh nhân gút có dư cân trên 20% trọng lượng cơ thể.

  • Tăng lipid máu

Sự kết hợp giữa tăng lipid máu và tăng acid uric máu đã được xác định chắc chắn. Có đến 80% người tăng lipid máu có sự phối hợp của tăng acid uric máu, và khoảng 50% – 70% bệnh nhân gút có kèm tăng lipid máu.

Ở bệnh nhân gút, ngoài sự rối loạn của thành phần Lipid, người ta còn nhận thấy có sự rối loạn của HDL, một loại lipoprotein có lợi, có tính bảo vệ đối với cơ thể.

bệnh gút, bênh thống phong

Sự liên quan giữa gút và rối loạn lipid máu chính là một phần của hội chứng chuyển hoá bao gồm tăng BMI, béo phì vùng bụng, tăng lipid, giảm HDL, tăng huyết áp, tiểu đường, tình trạng đề kháng insulin và nguy cơ bị bệnh mạch vành. Tăng acid uric máu kết hợp với béo phì vùng bụng là nhóm nguy cơ cao của bệnh tim mạch có liên quan đến sự đề kháng insulin.

  • Tăng huyết áp

Tăng acid uric máu được phát hiện ở 22 – 38% bệnh nhân tăng huyết áp không được điều trị. Tỉ lệ bệnh gút trong dân số tăng huyết áp là 2 –12%. Mặc dù tỉ lệ tăng acid uric máu tăng ở đối tượng tăng huyết áp nhưng không có sự liên quan giữa acid uric máu và trị số huyết áp. Có 25 – 50% bệnh nhân gút có kèm tăng huyết áp, chủ yếu ở các bệnh nhân béo phì. Nguyên nhân gây nên mối liên hệ giữa bệnh gút và tăng huyết áp hiện nay chưa được biết rõ.

  • Xơ mỡ động mạch

Các nghiên cứu gần đây đã chỉ rõ mối liên quan giữa gút và xơ mỡ động mạch. Tuy vậy, tăng acid uric máu không phải là yếu tố nguy cơ trực tiếp của bệnh mạch vành. Tăng huyết áp, tiểu đường, xơ mỡ động mạch liên quan nhiều đến tình trạng béo phì hơn là liên quan đến sự tăng acid uric máu.

Ở bệnh nhân gút, các yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành như tăng huyết áp, béo phì, đề kháng insulin, tăng lipid máu góp phần làm tăng sự liên quan giữa acid uric máu và xơ mỡ động mạch. Các yếu tố nguy cơ này tự nó làm tăng nguy cơ của bệnh tim mạch, và như vậy, acid uric máu chỉ gián tiếp làm tăng nguy cơ đột tử do bệnh tim mạch thông qua việc kết hợp với các bệnh lý có nguy cơ cao nói trên.

Những điều cần biết về bệnh gút thứ phát

Biểu hiện lâm sàng thường là hội chứng viêm một hoặc nhiều khớp cấp tính, tái diễn và một số biến chứng ở cơ quan khác. Khi triệu chứng lâm sàng xuất hiện là bệnh nhân đã có tăng acid uric trong máu một thời gian dài. Tuy nhiên, cũng có một số người chỉ có hội chứng tăng acid uric/máu mà không hề đưa đến viêm khớp gút. Hội chứng tăng acid uric và bệnh gút có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau.

  • Nguồn cung cấp và sản xuất

– Ngoại sinh: ăn nhiều chất đạm gốc purin
– Nội sinh: cơ thể tự tổng hợp từ acid nucléotid có sẵn.

  • Đào thải:
    – Thận: chủ yếu (70%)
    – Ruột
  • Chẩn đoán
    Khi có 2/4 tiêu chuẩn sau:
    – Viêm cấp 1 khớp ≥ 2 lần
    – Viêm khớp bàn-đốt ngón chân 1
    – Tophi
    – Đáp ứng với điều trị colchicin
  • Nguyên nhân
    – Gút nguyên phát (95%)
    – Di truyền (25%)
    – Hội chứng X (rối loạn chuyển hóa glucid- protid-lipid)
    – Nam giới- tuổi trung niên- tầng lớp được ưu đãi
    – Gút thứ phát
    – Acid uric có thể tăng khi: nhịn đói, hoạt động thể lực nặng, ngộ độc rượu cấp.
    – Viêm mạch máu, bệnh lý tắc nghẽn động mạch thường gặp ở chi dưới.
    – Viêm màng ngoài tim.
    – Viêm kết mạc, viêm mống mắt.
    – Viêm tuyến mang tai.
    – Viêm thanh quản, viêm thực quản.
    – Viêm tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt, tình trạng priaprisme.
    – Viêm màng não, hội chứng não cấp, hội chứng thần kinh ngoại biên do tophi chèn ép.

Một số biểu hiện lâm sàng của gút

Gút thứ phát chiếm tỷ lệ thấp (5-10%) so với gút nguyên phát, nhưng thường nặng và khó điều trị hơn. Trong nhóm bệnh gút phụ nữ, gút thứ phát lại chiếm tỉ lệ khá cao. Nghiên cứu của Massé và De Sèze, với gần 500 bệnh nhân, nhận xét: gút thứ phát ở nam là 6%, ở nữ gút thứ phát xác định là 17%, nghi ngờ là 33%

Gút do suy thận

Khi urê huyết vượt quá 1g/l thì hầu hết bệnh nhân đều có tình trạng tăng acid uric máu kèm theo. Tăng acid uric cũng rất thường gặp trong nhiễm độc thai nghén và ngộ độc chì, thông qua tổn thương ở cầu thận. Ngoài ra, người ta còn thấy hội chứng tăng acid uric máu ở bệnh nhân đái tháo nhạt do nguyên nhân thận.

Một số trường hợp bệnh nhân đến khám bệnh vì viêm khớp gút, đồng thời phát hiện được tình trạng suy thận song song, đã đặt ra cho chúng ta vấn đề về chẩn đoán nguyên nhân, gút là nguyên nhân hay là hậu quả của suy thận. Theo kết quả của nhiều công trình nghiên cứu, tăng acid uric thường là nguyên nhân đối với nhóm nam giới và ngược lại, là hậu quả của suy thận, đối với nhóm nữ.

Gút do bệnh lý huyết học

Bệnh gút thứ phát do nguyên nhân huyết học có thể gặp ở bệnh lý tăng sinh tủy, đặc biệt khi đã có biến chứng suy thận, như:

  • Đa u tủy, bệnh lý globulin
  • Xơ tủy (myélosclérose)
  • Bệnh bạch cầu cấp hay mãn dòng tủy hay dòng lympho.
  • Thiếu máu bất sản.
  • Thiếu máu tán huyết mãn: thalassemie, depranocytoe, bệnh Minkowski Chauffard, thiếu máu Biermer.

Tăng acid uric trong nhóm bệnh huyết học chủ yếu do tăng sản xuất từ quá trình thoái hoá nucleoprotein của tế bào bệnh lý hay khi điều trị bằng các thuốc độc tế bào. Acid uric máu trong nhóm này thường rất cao, vượt quá 10mg%. Bệnh xuất hiện với tỷ lệ thấp, nhưng diễn biến nặng.

Gút do vảy nến

Trong khi điều trị và theo dõi bệnh vảy nến, người ta nhận thấy acid uric máu trung bình của nhóm này cao hơn nhiều so với nhóm chứng. Hội chứng tăng acid uric máu của nhóm này thường có liên quan đến quá trình thoái hóa nucleiprotein do tổn thương tế bào biểu bì. Vì vậy, khi tổn thương da càng nhiều, càng tiến triển thì acid uric máu càng cao.

Gút do thuốc lợi tiểu

Cơ chế của hội chứng tăng acid uric do thuốc lợi tiểu là giảm thải trừ acid uric qua ống thận một cách gián tiếp thông qua việc làm giảm thể tích máu lưu thông dẫn đến tăng tái hấp thu acid uric.

Sử dụng thuốc lợi tiểu làm nặng thêm bệnh gút sẵn có hoặc làm phát sinh bệnh. Điều trị bệnh, ngoài việc ngưng thuốc, nhóm thuốc tăng thải acid uric là chọn lựa phù hợp với cơ chế bệnh sinh. Tuy nhiên, allopurinol vẫn cho kết quả tốt.

Gút và bệnh tăng huyết áp

Người ta nhận thấy nồng độ acid uric máu của bệnh nhân tăng huyết áp thường cao hơn. Các nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa bệnh tăng huyết áp và tăng acid uric/máu mang tính độc lập cho dù có hay không có suy thận và sử dụng thuốc lợi tiểu.

Người ta cho rằng Noradrenalin và Angiotensin II có vai trò trong việc làm tăng acid uric máu thông qua cơ chế làm giảm bài tiết acid uric qua ống thận.

Gút và suy giáp

Leeper và cộng sự nhận thấy acid uric máu trên bệnh nhân suy giáp thường cao hơn nhóm chứng, ngược lại cũng có một số tác giả nhận thấy nồng độ hormon tuyến giáp thấp ở bệnh nhân gút.

Bệnh Lesch-Nyhan

Bệnh di truyền có liên quan đến khiếm khuyết gen ở nhiễm sắc thể X. Bất thường gen gây ra rối loạn hoàn toàn hay một phần hoạt động của men hypoxanthine-guanin phosphoribotransferase. Chỉ gặp ở bé trai vài tháng tuổi với chậm phát triển tâm thần-vận động, tăng trương lực, rối loạn vận động kiểu múa vờn và co quắp làm tổn thương môi, ngón tay v.v..

Bên cạnh đó là tình trạng tăng acid uric máu và gây nên viêm khớp gút khi bé khoảng 10 tuổi. Allopurinol có thể cho kết quả tốt đối với bệnh này.

Một số bệnh gút thứ phát khác

Cường giáp: hiếm gặp hơn bệnh giả gút (tinh thể calci)

Đái tháo đường nhiễm toan: Ở bệnh nhân đái tháo đường không nhiễm toan, hầu như nồng độ acid uric không có nhiều khác biệt. Ngưới ta cho rằng cơ chế làm tăng acid uric máu ở bệnh đái tháo đường nhiễm toan là việc giảm thải acid uric do ức chế acid betabutyric.

  • Hội chứng Down
  • Ung thư di căn
  • Suy tuyến cận giáp
  • Bệnh sarcoidose
  • Ngộ độc beryllium và ngộ độc chì
  • Thuốc: thuốc lao (pyrazinamide, ethambutol), Aspirin (liều thấp từ 50-150mg/ngày), thuốc ức chế miễn dịch (cyclophosphamide, aziathioprine)

Cơn gút cấp tính

Cơn gút cấp thường xảy ra sau bữa ăn có quá nhiều thịt (nhất là loại có nhiều purin như thịt chó, nội tạng), sau khi uống nhiều rượu. Cảm xúc mạnh, lao động nặng, đi lại nhiều, chấn thương (kể cả chấn thương nhỏ như đi giày chật), nhiễm khuẩn… cũng là những yếu tố làm cơn đau xuất hiện.

Dấu hiện điển hình nhất là sưng, nóng, đỏ, đau dữ dội khớp bàn ngón chân cái, sưng đau nhiều, tấy đỏ, bệnh nhân không đi lại được, không ngủ được, đau tăng về đêm. Có thể sưng đau ở một số vị trí khác như cổ chân, khớp gối, các ngón chân…, tính chất cũng dữ dội như vậy.

Người bệnh có thể sốt, mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa, tiểu ít, nước tiểu đỏ. Xét nghiệm máu, axit-uríc tăng cao. Đợt viêm sưng tấy khớp kéo dài từ vài ngày tới 10 ngày, sưng đau giảm dần rồi khỏi, hết sốt, dễ chịu, ăn ngủ tốt, khớp khỏi không để lại dấu vết gì. Bệnh hay tái phát, lúc đầu cơn thưa (mỗi năm một vài lần) sau tăng dần, cuối cùng liên tục và trở thành mạn tính.

Cơn gút cấp tính là một trong các biểu hiện lâm sàng của bệnh gút. Cơn gút cấp tính lần đầu thường xảy ra ở lứa tuổi 35-55, hay gặp ở nam giới. Nó đến đột ngột vào ban đêm, gây đau khớp, đa số là khớp bàn – ngón chân cái. Khớp sưng to, đỏ, phù nề, căng bóng, nóng, đau dữ dội và tăng dần, va chạm nhẹ cũng rất đau, thay đổi mọi tư thế đều không dịu đi.

Cơn đau kéo dài nhiều ngày, thường là 5-7 ngày, sau đó các dấu hiệu của viêm giảm dần. Trong cơn đau, người bệnh có thể sốt vừa hoặc sốt nhẹ, mệt mỏi, nước tiểu ít và đỏ. Cơn gút cấp tính dễ tái phát, thông thường 1-2 cơn mỗi năm, sau đó khoảng cách giữa các cơn ngắn lại, nhưng cũng có thể tới trên 10 năm mới tái phát.

Trong điều trị bệnh gút, chế độ ăn rất quan trọng; trong mọi bữa đều không nên ăn quá mức. Với những người đã tăng axit uric (trên 70 mg/l), cần tránh những bữa ăn có quá nhiều purin, người béo phải dùng chế độ giảm calo. Không uống rượu, uống nhiều nước, nhất là loại nước có nhiều bicarbonat như nước khoáng.

Khi bị cơn gút cấp tính, phải dùng ngay thuốc chống viêm. Thuốc có hiệu lực tốt nhất là colchicin, uống 1 viên 1 mg x 2-3 lần trong ngày đầu (tối đa 4 viên); 1 viên x 2 lần trong ngày thứ hai và 1 viên/ngày trong 3 ngày tiếp theo. Liều duy trì để tránh cơn tái phát là 1 viên mỗi ngày, uống trong 3 tháng, 6 tháng, 1 năm hoặc dài hơn. Những người suy gan, suy thận, suy tủy xương cần thận trọng khi dùng thuốc và phải được sự theo dõi chặt chẽ của thày thuốc.

Ngoài colchicin, có thể dùng phenylbutazon hoặc indomethacin, tuy chúng tác dụng có kém hơn. Những thuốc này cũng có tác dụng phụ không tốt, cần được thầy thuốc hướng dẫn cụ thể.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here