Làm Sao Để Điều Trị Bệnh Gút Nhanh Chóng Và Dễ Dàng?

Bệnh nhân gút, kể cả những người đã bị mãn tính lâu năm thường xuyên bị những cơn đau kinh hoàng hành hạ, giờ đây sẽ không còn phải bi quan vì đã mắc căn bệnh quái ác này nữa. Thực Phẩm Chức Năng xin chia sẻ phương pháp điều trị bệnh gút, giúp giảm chứng đau khớp khi mắc phải căn bệnh quái ác này.

Điều trị bệnh Gút đúng cách

Tất cả các bệnh nhân gút, kể cả những người đã bị mãn tính lâu năm, những bệnh nhân đã bị biến chứng sang thận, tiểu đường, béo phì đều có khả năng đáp ứng khi được điều trị theo phương pháp này.

Người bị bệnh gút (gút) thường điều trị ngoại trú. Do bệnh tiến triển mạn tính, không được chẩn đoán chắc chắn, không khám định kỳ, làm các xét nghiệm cần thiết, nên việc dùng thuốc chưa đúng, kém hiệu quả, có khi còn xảy ra tai biến.

điều trị bệnh gút, giảm chứng đau khớp

Người bệnh thường dùng các thuốc điều trị bệnh gút giảm chứng đau khớp trong đợt cấp và các thuốc dự phòng ngừa khởi phát đợt cấp.

  • Thuốc điều trị

– Colchicin: Môi trường acid dễ làm kết tủa urat gây bệnh gút. Colchicin tạo ra chất ngăn cản sự vận chuyển các vật liệu bị thực bào đến các thể tiêu bào, ức chế sự thực bào của bạch cầu trung tính với tinh thể urat, giữ cho môi trường bình thường, nên được dùng điều trị cơn cấp tính và dự phòng khởi phát đợt cấp. Muốn có hiệu quả phải dùng ngay khi khởi phát đợt cấp. Thuốc gây nôn, tiêu chảy (xảy ra trước khi giảm triệu chứng đau). Cần giảm liều khi thuốc đã có hiệu quả.

Thận trọng với người bệnh về dạ dày, ruột, thận, gan, tim, loạn thể tạng máu; không dùng khi các bệnh này ở mức trầm trọng. Thận trọng khi dùng cho người già, sức yếu, phụ nữ mang thai, nuôi con bú. Không dùng thuốc lâu dài vì có thể gây bệnh về cơ.
Khi dùng thuốc nếu có hiện tượng nôn, tiêu chảy chứng tỏ thuốc đã quá liều, phải giảm liều hay tạm ngưng trị liệu. Thuốc có thể làm nổi mề đay, ban đỏ dạng sởi, suy giảm tủy xương, viêm thần kinh ngoại biên, rụng tóc nhưng hiếm gặp nếu dùng đúng liều.

– Kháng viêm không steroid (NSAID): Là thuốc chọn lựa đầu tiên, thường dùng ít nhất 5-7 ngày khi người bệnh bị đau mà chưa điều trị hoặc dùng phối hợp với thuốc dự phòng. Các NSAID thế hệ cũ (ức chế COX-1, COX-2) và mới (ức chế chọn lọc COX-2) có hiệu quả như nhau.

Không dùng NSAID cho người suy thận, loét dạ dày đang tiến triển, suy tim sung huyết hay có mẫn cảm với thuốc.

– Các corticoid: Khi bị bệnh gút đa khớp, ảnh hưởng nặng đến khớp thì có thể tiêm vào khớp. Việc tiêm vào khớp chỉ dùng theo chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa. Khi chắc chắn không bị nhiễm khuẩn khớp, không bị nhiễm khuẩn da ở chỗ tiêm mới được tiêm (nếu không sẽ gây nhiễm khuẩn tại khớp hoặc lan rộng ra toàn thân, nhiễm khuẩn huyết).

Phải tiêm đúng vào vị trí (nếu không sẽ không có hiệu quả, tiêm chệch vào cơ, xương, mạch máu, dây thần kinh quanh khớp có thể gây teo cơ, xốp xương, mất chức năng vận động khớp).

  • Thuốc dự phòng:

Gồm allopurinol và các thuốc thải acid uric. Chỉ dùng dự phòng cho những người có hơn 3 đợt cấp trong năm. Với người không có triệu chứng, chỉ dùng dự phòng khi xét nghiệm thấy lượng acid uric ở nước tiểu trong 24 giờ lớn hơn 1.100mg, hoặc khi nồng độ acid uric máu cao, kéo dài (ở nam lớn hơn 773mg, nữ lớn hơn 595 micromol/lít).

– Allopurinol: Bắt đầu dùng liều thấp (liều duy nhất 100mg/ngày), sau tăng dần mỗi 3-4 tuần một lần cho đến khi nồng độ acid uric trong máu trở lại bình thường (liều dùng thường đạt đến 200-300mg/ngày, đôi khi phải dùng đến liều cao 600-900mg/ngày). Nếu xuất hiện một đợt cấp phải giữ liều allopurinol không đổi và đợt cấp được điều trị bệnh gút theo cách thông thường.

Allopurinol gây độc cho thận. Khi độ lọc cầu thận giảm thì phải giảm liều hoặc giãn khoảng cách giữa các lần dùng. Chẳng hạn khi độ lọc của cầu thận trên 100ml/phút thì mỗi ngày dùng 300mg nhưng khi độ lọc của cầu thận chỉ còn 10-20ml/phút thì 2 ngày mới dùng một lần 100mg. Không làm như thế sẽ xảy ra phản ứng quá mẫn trầm trọng: sốt cao, hoại tử biểu bì, nhiễm độc viêm gan, suy thận với tỷ lệ tử vong cao (khoảng 20%).

Khi dùng thuốc điều trị bệnh gút phải uống nhiều nước (để nước tiểu bài tiết trong 24 giờ, đạt khoảng 2 lít), duy trì nước tiểu trung tính hoặc kiềm.

Allopurinol có thể gây hoại tử gan, viêm mạch hoại tử, loạn thể tạng máu, tụ máu gây phản ứng da độc tính, phát ban, gây rối loạn dạ dày, ruột, sốt, nhức đầu nhưng ít khi xảy ra nếu dùng đúng liều. Allopurinol không có chống chỉ định với người bệnh sỏi thận urat.

  • Các thuốc thải uric: Gồm benzbromaron, probenecid, sulphipyrazon.

Dùng cho người không dung nạp allopurinol hoặc phối hợp với allopurinol khi dùng đơn độc một loại kém hiệu quả. Người suy thận mà độ thanh thải creatin dưới 50ml/phút thì dùng không có hiệu quả.

Cần điều chỉnh liều thích hợp để với chế độ ăn bình thường lượng acid uric thải ra ở nước tiểu trong 24 giờ phải dưới 800mg. Phải khởi đầu với liều thấp, sau tăng dần. Ví dụ mức tăng probenecid (từ 500 lên 2.000mg), sulphipyrazon (từ 100 lên 600mg), benzbromaron (từ 100 lên 200mg).

Khi dùng thuốc, phải uống nhiều nước để có đủ lượng nước tiểu thải ra, nếu không sẽ kết tinh urat, gây sỏi. Có thể dùng natri bicarbonat với liều 1-2-3g/ngày để làm giảm sự kết tinh urat. Trừ benzbromaron đôi khi có thể gây suy gan tối cấp, cả 3 thuốc này chỉ gây rối loạn tiêu hóa và dị ứng nhẹ. Không dùng thuốc cho người có sỏi urat.

Khi dùng thuốc chữa gút, người bệnh cần khám lâm sàng, xét nghiệm chắc chắn có bệnh mới dùng thuốc. Cần dùng đúng từng loại cho mỗi giai đoạn, đúng thời điểm, đúng liều, đúng thời gian, và khám định kỳ (cả lâm sàng, xét nghiệm chỉ số chức năng gan, thận, đếm máu, đo lượng acid uric trong nước tiểu, trong máu…) để điều chỉnh liều theo chỉ dẫn của thầy thuốc, không tự ý dùng thuốc mò mẫm. Tuy không chữa khỏi, nhưng làm đúng như thế, bệnh sẽ ổn định.

Dùng thuốc điều trị bệnh gút và chế độ ăn cho người bệnh

Điều trị bệnh gút bao gồm điều trị cơn gút cấp và điều trị hội chứng tăng acid uric máu. Khi có cơn gút cấp cần phải điều trị bằng thuốc, thuốc chống viêm giảm đau tốt nhất được lựa chọn trong điều trị cơn gút cấp là colchicin, viên 1mg, ngày đầu uống 3 viên, ngày thứ hai uống 2 viên, các ngày sau mỗi ngày 1 viên trong 5-7 ngày đến khi hết đau. Uống thuốc sau bữa ăn mỗi lần 1 viên. Thuốc có thể gây tiêu chảy, đau dạ dày, nôn mửa.

Ngoài colchicin có thể dùng các thuốc kháng viêm giảm đau nhóm không steroid (indomethacin, diclofenac, ibuprofen) nhưng tác dụng kém hơn. Corticoid làm giảm viêm nhanh nhưng ngừng thuốc lại đau trở lại, hơn nữa corticoid làm tăng acid uric máu nên không dùng.

Điều trị hội chứng tăng acid uric máu: Sử dụng thuốc làm giảm acid uric máu gồm nhóm thuốc làm giảm tổng hợp acid uric như allopurinol, thiopurinol, thuốc ức chế men xanthin oxydase làm giảm tạo thành acid uric, viên 100mg uống 3 viên/ngày, thường phải kéo dài trên 20 ngày đến khi nồng độ acid uric máu xuống dưới 416mcm/lít. Thuốc ít tác dụng phụ nhưng có thể gặp phản ứng dị ứng, nổi mẩn da, rối loạn tiêu hóa.

Nhóm thuốc làm tăng phân hủy acid uric là uricozym, đây là một men urat oxydase được chiết xuất từ nấm aspegilus flavus có tác dụng làm thoái giáng acid uric thành allantoin. Allantoin có độ hòa tan gấp 10 lần so với uric và dễ dàng được thận đào thải. Uricozym làm giảm acid uric máu rất mạnh.

Nhóm thuốc làm tăng đào thải acid uric qua nước tiểu như probenecid, sulfinpyrazon (anturan). Thuốc có thể gây phản ứng dị ứng, rối loạn tiêu hóa, chán ăn, buồn nôn, đau dạ dày, tiêu chảy. Hai thuốc trên không được dùng đồng thời với aspirin liều nhỏ hoặc thiazid vì làm mất tác dụng đào thải acid uric. Vì thuốc làm tăng đào thải acid uric qua thận nên có thể làm tăng nguy cơ hình thành sỏi thận.

Ngoài ra, cần phải kiềm hóa máu để làm tăng độ hòa tan của acid uric bằng uống các nước có kiềm (soda), nabica viên 0,5, uống 4 viên/ngày.

Điều quan trọng hơn là phải dự phòng cơn gút cấp tái phát bằng chế độ ăn và điều trị bệnh gút bằng cách giảm acid uric máu để luôn duy trì nồng độ acid uric máu trong giới hạn bình thường. Người ta thấy cơn gút cấp thường xảy ra sau bữa ăn nhiều thịt, rượu, chấn thương (kể cả đi giày chật).

Vì vậy người bị gút không nên ăn quá 0,8g đạm động vật/kg trọng lượng cơ thể/ngày. Chẳng hạn người 50kg không nên ăn quá 40g đạm động vật/ngày. Một lạng thịt lợn nạc, thịt bò, cá có 20g đạm, vậy không ăn quá 2 lạng thịt động vật/ngày.

Không uống rượu, bia, uống nhiều nước, trên 2 lít/ngày, nên uống các loại nước có bicacbonat. Định kỳ kiểm tra acid uric máu, dùng thuốc làm giảm acid uric máu như allopurinol, uricozym để duy trì nồng độ acid uric máu trong giới hạn bình thường.

Không nên sử dụng các thuốc gây tăng acid uric máu như thiazid, ethambuton, pyrazynamid, aspirin liều nhỏ.

Hiện nay, điều trị bệnh gút đạt kết quả cao nhờ có chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý và dùng thuốc. Ngay khi thấy xuất hiện triệu chứng nghi mắc bệnh gút cần đi khám bệnh sớm và chữa trị ngay, không để bệnh chuyển sang mạn tính.

Mục đích chủ yếu trong điều trị bệnh gút là làm hết những cơn viêm khớp bằng các thuốc chống viêm như colchicin, voltarène nhưng không dùng aspirin, corticoid vì hai loại này nếu dùng lâu dài có thể gây tăng acid uric trong máu. Dùng các thuốc làm giảm nồng độ acid uric trong máu như allopurinol (biệt dược: alinol xanturic, zyloric…) vì thuốc ức chế tổng hợp acid uric.

Ngoài ra còn có thể dùng các thuốc tăng thải acid uric qua thận như probenecid, sulfinpyrazon, thuốc làm tan sỏi urat… Việc dùng thuốc phải lâu dài ngay cả khi đã hết viêm khớp. Lượng acid uric máu phải được giảm tới dưới 5mg/100ml máu và duy trì ở mức này bằng thuốc lâu dài, liên tục không ngắt quãng.

Để tránh những tác dụng phụ, tai biến do thuốc, phương pháp điều trị bệnh gút cần được bác sĩ theo dõi và chỉ định.

  • Về ăn uống:

Người bệnh gút kiêng tuyệt đối những thực phẩm chứa nhiều purin như phủ tạng gia súc, gia cầm, các loại thịt đỏ (thịt trâu, dê, chó, thịt thú rừng…), tôm, cua biển… vì acid uric là sản phẩm thoái hóa của purin. Hạn chế một phần thịt lợn, bò, gà, vịt… (bảo đảm lượng protein không quá 100g/ngày), hạn chế bia, nấm, rau giền, hoa quả chua. Hằng ngày cần uống nhiều nước, tốt nhất là dùng loại nước khoáng kiềm, ăn nhiều rau xanh, khoai, đậu…

  • Chế độ sinh hoạt:

Cần làm việc điều độ, nhẹ nhàng, tránh mệt mỏi cả về tinh thần và thể chất. Tránh nhiễm lạnh đột ngột. Ngoài ra, cũng cần duy trì một chế độ tập luyện, vận động thường xuyên, vừa sức. Thường xuyên nên ngâm chân nước ấm (không dùng nước nóng quá) vào các buổi tối, trừ những lúc viêm cấp.

Bệnh gút có những đặc điểm lâm sàng khá đặc biệt. Người bệnh nếu chú ý có thể tự mình phát hiện sớm, đi khám và điều trị sớm. Đây là loại bệnh điều trị rất có hiệu quả khi kết hợp tốt giữa thuốc kháng viêm giảm đau (chữa triệu chứng) và dùng các thuốc làm giảm acid uric máu một cách đều đặn, liên tục và lâu dài.

Đồng thời với thuốc là tuân theo một chế độ ăn phòng bệnh và một chế độ sinh hoạt phù hợp. Những điều đó có ý nghĩa rất quan trọng trong việc kiểm soát, phòng ngừa và điều trị bệnh gút, tránh được các hậu quả xấu ở khớp, ở thận… để duy trì sức khỏe và khả năng làm việc.

  • Chườm đá làm giảm chứng đau khớp

Một nghiên cứu mới đây của Mỹ cho thấy, việc dùng những túi đá để chườm tại các khớp viêm do bệnh gút sẽ làm giảm đáng kể triệu chứng đau của người bệnh.
Các bác sĩ tại Đại học Y New Jersey đã chọn ra 19 bệnh nhân bị viêm khớp cấp do gút (giai đoạn đầu của bệnh gút, khi mới xuất hiện những biểu hiện đầu tiên). Tất cả họ đều được dùng thuốc chống gút đặc hiệu là colchicine và thuốc chống viêm prednisone.

điều trị bệnh gút, giảm chứng đau khớp

Ngoài ra, 10 người trong số này còn được chườm túi lạnh ở vùng khớp bị đau trong 30 phút, 4 lần mỗi ngày. Bệnh nhân được theo dõi trong vòng 1 tuần.

Kết quả cho thấy, ở nhóm được chườm lạnh, dấu hiệu đau giảm đáng kể; chứng phù nề, ứ nước cũng giảm ít nhiều. Ngoài ra, người bệnh ít bị các cơn gút nặng so với những người ở nhóm không chườm lạnh.

Tuy kết quả thu được rất khả quan, nhưng theo các tác giả, quy mô của nghiên cứu còn nhỏ nên chưa rõ ngoài giảm đau, liệu pháp điều trị bệnh gút này có đem lại tác dụng gì khác hay không, và liệu điều này có còn đúng khi kết hợp chườm lạnh với các thuốc khác.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here